Những ngành có triển vọng trong năm 2019

Thảo luận trong 'Thảo luận chung' bắt đầu bởi Nguyễn Khánh Ngọc, 11/1/19.

Lượt xem : 370

  1. Nguyễn Khánh Ngọc

    Nguyễn Khánh Ngọc Moderator

    Tham gia ngày:
    28/10/18
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    19
    Giới tính:
    Nam
    nhung-nganh-co-trien-vong-tich-cuc-trong-nam-2019-1.jpg

    Với diễn biến khó lường của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2018 thì việc lựa chọn cổ phiếu ngành nào để đầu tư là mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư trong năm mới này
    Bất động sản khu công nghiệp hấp dẫn

    Nhiều chuyên gia đánh giá cao về tăng trưởng của ngành bất động sản trong năm 2019, tập trung vào bất động sản khu công nghiệp và bất động sản dân dụng.

    Ở phân khúc bất động sản khu công nghiệp thì đây là nơi thu hút dòng tiền đầu tư trong thời gian qua. Thống kê từ Vụ Quản lý các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và Ðầu tư: Việt Nam có 328 khu công nghiệp với tổng diện tích 96.300 ha. Trong đó, 223 khu công nghiệp đã hoạt động, với tỷ lệ lấp đầy bình quân gần 85% và 105 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng. Kế hoạch đến năm 2020, tổng diện tích đất để phát triển công nghiệp toàn quốc sẽ tăng gấp đôi quy mô hiện tại.

    Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) đánh giá, bất động sản khu công nghiệp cả nước phát triển mạnh là do chi phí sản xuất của nước ta thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á, dưới 1 USD/giờ, đồng thời cũng thấp hơn cả Trung Quốc và giá đất tại quốc gia này thì đang tăng cao.

    Theo VCBS, từ năm 2015 đến nay đã có xu hướng dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc bởi chi phí lao động tăng cao. Đồng thời, cuộc chiến thương mại lại càng đẩy mạnh xu hướng này hơn nữa. Những mối lo ngại về căng thẳng thương mại sẽ khiến cho kế hoạch di dời sẽ vẫn tiếp diễn trong giai đoạn tới. Việc này sẽ tạo ra cơ hội đối với hoạt động cho thuê khu công nghiệp tại Đông Nam Á.

    Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được xem là điểm đến hấp dẫn nhờ vào chi phí nhân công trung bình thấp hơn Thái Lan 43% và thấp hơn Indonesia 10%. Bên cạnh đó, tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp của nước ta khoảng 73%, còn ở Thái Lan có tới 90% đất thương phẩm đã đi vào khai thác.

    Sức hấp dẫn của bất động sản khu công nghiệp cũng xuất phát từ các tập đoàn lớn trên thế giới đã và đang mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Đơn cử như Samsung, LG và các tập đoàn lớn khác đã có mặt ở nước ta hơn 10 năm, hình thành nên nhu cầu thuê khu công nghiệp rất cao ở khu vực miền Bắc. Việc này khuyến khích các nhà cung cấp đặt nhà máy sản xuất gần với khách hàng của họ. Vì thế, những doanh nghiệp sở hữu bất động sản khu công nghiệp như Tổng công ty Phát triển Ðô thị Kinh Bắc (KBC), Công ty CP Long Hậu (LHG), Công ty CP Khu công nghiệp Nam Tân Uyên (NTC) sẽ có lợi thế khá tốt.

    Cảng biển dự kiến có tăng trưởng lợi nhuận cao nhất

    Trong năm vừa qua, ngành cảng biển đã có sự khởi sắc và sang năm 2019 dự báo ngành này sẽ tiếp tục có lợi thế.

    Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) dự báo ngành cảng biển sẽ tăng trưởng lợi nhuận cao nhất thị trường, có thể đạt 30,4% nhưng sẽ thấp hơn nhiều mức ước 113,8% của năm 2018.

    Việt Nam sẽ lấy thị phần xuất khẩu từ Trung Quốc nhờ vào cuộc chiến thương mại, ở các lĩnh vực như dệt may, da giày, gỗ,... Do đó sẽ thúc đẩy nhu cầu vận chuyển quốc tế đến Việt Nam hoặc ngược lại, dẫn đến số lượng container thông quan sẽ được tăng lên vì các mặt hàng này vận chuyển bằng đường hàng hải là chính.

    Đồng thời, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư 54 để điều chỉnh khung giá một loạt dịch vụ cảng biển, trong đó có dịch vụ bốc dỡ container. Khi Thông tư có hiệu lực trong năm 2019, thì giá sàn theo quy định mới sẽ cao hơn 10% so với hiện tại đối với các cảng biển miền Bắc, phá vỡ xu hướng giảm giá dịch vụ bởi sự cạnh tranh gay gắt ở phía Bắc.

    Tổ chức Business Monitor International (BMI) dự kiến tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm sẽ tăng 12% trong 4 năm tới, đạt giá trị danh nghĩa là 735 tỷ USD vào năm 2022, do Chính phủ nỗ lực mở cửa thương mại, ký kết các Hiệp định thương mại tự do, đã đẩy mạnh việc vận chuyển hàng hóa qua kênh cảng biển.

    Bên cạnh đó, việc bùng nổ thương mại điện tử và sự hình thành các liên minh vận tải biển lớn cũng như sự phân chia lại thị trường này về cơ bản đã kết thúc, điều này đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp cảng biển tăng trưởng.

    Các doanh nghiệp đầu ngành có vị trí cảng đẹp và mối quan hệ lâu năm với khách hàng sẽ có lợi thế tốt hơn so với các doanh nghiệp khác trong ngành.

    Trong đó có Công ty CP Gemadept (GMD) chiếm thị phần lớn và lợi thế tốt về chuỗi cung ứng và quy mô tài sản. Sau khi doanh nghiệp thoái vốn và tái cấu trúc thì khai thác cảng biển sẽ là hoạt động kinh doanh cốt lõi và đóng vai trò chính trong sự tăng trưởng. Ở khu vực Hải Phòng và Cái Mép (Bà Rịa - Vũng Tàu), GMD đều nắm các vị trí cảng biển thuận lợi, dư địa tăng công suất lớn và nguồn hàng được đảm bảo ở các đối tác.

    Bán lẻ có động lực tăng trưởng nhờ vào thu nhập dân cư tăng lên

    Các nhà đầu tư nước ngoài luôn bị thu hút bởi thị trường bán lẻ Việt Nam do cơ cấu dân số trẻ, thu nhập khả dụng và tỷ lệ đô thị hóa ngày càng tăng. So với tốc độ tăng trưởng GDP thì tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành này thường cao hơn 1,5 - 2 lần.

    VCBS đánh giá động lực chính cho tăng trưởng của ngành bán lẻ là nhờ vào thu nhập dân cư tăng với thu nhập bình quân đầu người tăng cao, dự kiến đến trước năm 2021 khoảng 40% dân số sẽ trở thành tầng lớp trung lưu.

    Theo dự báo của Euromonitor, tổng chi tiêu trong các hộ gia đình Việt Nam sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình 11,4% ở giai đoạn 2017-2021. Song song đó, tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, từ 20% năm 1998 ước tính sẽ tăng 37,4% vào năm 2021.

    Thị trường bán lẻ trong nước có trị giá 129 tỷ USD và chủ yếu là kênh bán lẻ truyền thống. Hiện các công ty bán lẻ lớn, có năng lực quản lý chuỗi và khả năng tài chính tốt đang dần mở rộng sang mảng kinh doanh mới như Công ty CPĐT Thế giới di động (MWG), Công ty CP Bán lẻ Kỹ thuật số FPT (FRT), Công ty CP Vàng bạc Ðá quý Phú Nhuận (PNJ).

    Đơn cử ở MWG, nếu như chuỗi Thế giới Di động tăng trưởng đang chậm lại và thị phần tương đối ổn định, thì chuỗi Bách hóa xanh được kỳ vọng là động lực tăng trưởng chính kể từ năm 2019. Doanh nghiệp đưa ra kế hoạch kinh doanh 2019 với doanh thu đạt 108.468 tỷ đồng, lợi nhuận ròng đạt 3.571 tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2018.

    Với FRT, cũng phải chịu tình hình bão hòa trong mảng phân phối điện thoại di động, doanh nghiệp đã mở rộng sang lĩnh vực phân phối dược phẩm khi mua lại chuỗi Nhà thuốc Long Châu và thành lập công ty FPT Pharma, kỳ vọng trong dài hạn là sẽ chiếm 30% thị phần của thị trường bán lẻ dược phẩm có giá trị 1,6 tỷ USD này. Kế hoạch đến năm 2021 doanh thu mảng dược phẩm sẽ đóng góp 30-40% tổng doanh thu FRT.

    Còn PNJ thì hiện đứng đầu trong nước về thị phần và số lượng cửa hàng ở lĩnh vực bán lẻ trang sức thời trang và vượt xa những đối thủ cạnh tranh.

    Bảo hiểm có nhiều tín hiệu tích cực

    Tương tự như ngành bán lẻ, khi tầng lớp trung lưu tăng lên thì ngành bảo hiểm nhờ vào đó cũng được hưởng lợi. Tầng lớp này càng gia tăng càng thúc đẩy nhu cầu bảo hiểm cá nhân, trong đó có bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm xe cơ giới.

    Đối với bảo hiểm về tài sản, hàng hóa, cháy nổ sẽ có sự phục hồi chậm hơn bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới. Mặc dù vậy, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) đánh giá cuộc chiến thương mại sẽ giúp mang lại cơ hội cho mảng bảo hiểm này khi các doanh nghiệp chuyển một phần đơn hàng và nhà máy sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam. Kỳ vọng lợi tức đầu tư ở những doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có khả năng tăng lên.

    Thêm vào đó, kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) đang dần trở nên quan trọng với việc ngân hàng và công ty tín dụng tiêu dùng thường yêu cầu người vay mua bảo hiểm như một điều kiện để cấp tín dụng. Ở nhiều nước, bancassurance góp phần lớn trong doanh thu của các công ty bảo hiểm như Tây Ban Nha (72%), Ý (70%), Pháp (60%)…

    Mặt khác, Bộ Tài chính hiện có soạn thảo sửa đổi Nghị định 73/2016/NÐ-CP, nới lỏng điều kiện kinh doanh bảo hiểm và khuyến khích các công ty bảo hiểm quốc tế gia nhập nhiều hơn vào ngành bảo hiểm trong nước. Song song đó, tiến trình thoái vốn trong ngành bảo hiểm dự kiến sẽ tăng tốc trong năm nay, là động lực cho xu hướng hợp tác của các công ty bảo hiểm trong nước với các đối tác nước ngoài.

    Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất trong lĩnh vực bảo hiểm là thiên tai do mức độ tổn thất lớn và không thể biết trước được.

    Nhiệt điện với triển vọng khả quan

    Phần lớn các chuyên gia phân tích đều đánh giá ngành nhiệt điện có triển vọng tăng trưởng với các công ty như Tổng công ty Ðiện lực Dầu khí Việt Nam (POW), Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại (PPC), Công ty CP Ðiện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 (NT2) dự báo có triển vọng tốt trong năm 2019.

    Tiêu thụ điện toàn quốc ở giai đoạn 2011- 2016 thường tăng nhanh gấp đôi so với tăng trưởng GDP. Dự báo nhu cầu tiêu thụ điện vào những năm tiếp theo sẽ tăng dần, từ 11 - 13%/năm.

    Hiện tại, nguồn cung điện thực tế mới chỉ đạt mức tăng trưởng 6 - 7%, các nhà máy nhiệt điện dầu đang bù đắp cho sự chênh lệch tăng trưởng cung - cầu. Công ty Chứng khoán FPT (FPTS) dự kiến từ 2019-2020, nhiệt điện dầu sẽ đóng góp khoảng 4,4% và 5,2% tỷ kWh để đảm bảo cân bằng cung - cầu điện.

    Dự báo hiện tượng Enso (viết tắt của 2 hiện tượng El Nino và La Nina) sẽ chuyển dần sang trạng thái El Nino vào đầu năm 2019 với xác suất khoảng 80%, như vậy lượng mưa về hồ chứa ở các nhà máy thủy điện sẽ bị giảm 10 - 15%, dẫn đến các nhà máy nhiệt điện sẽ tăng được khoảng 10% công suất/sản lượng so với năm 2018.

    Năm vừa qua, một số nhà máy nhiệt điện bị ảnh hưởng do thiếu nhiên liệu đầu vào trong mùa cao điểm. Sang năm 2019, tình trạng này hiếm có khả năng xảy ra khi mỏ khí Phong Lan Dại bắt đầu vận hành và các giải pháp của Chính phủ sẽ đảm bảo nguồn cung than cho các nhà máy nhiệt điện than.

    Dự báo giá dầu thô sẽ từ mức bình quân 72 USD/thùng trong năm 2018 có thể giảm còn 65 USD/thùng trong năm 2019. Theo tính toán của VDSC, giá khí có khả năng giảm tương ứng. Mặt khác, Chính phủ có thể sẽ chấp nhận tăng giá than bán cho nhiệt điện khoảng 5%.

    Do đó, dự kiến khoảng cách giữa giá thành biến đổi của nhóm nhiệt điện than và nhiệt điện khí sẽ thu hẹp lại trong năm nay, sẽ giúp tình hình cạnh tranh trong ngành cân bằng hơn.

    Tóm lại, năm 2019 được đánh giá sẽ không dễ dàng đối với cả thị trường chứng khoán thế giới lẫn trong nước. Mặc dù vậy, hầu hết các chuyên gia phân tích đều nhận định nhà đầu tư đừng nên quá bi quan, tuy các doanh nghiệp có thể tăng trưởng lợi nhuận chậm lại nhưng vẫn có những cơ hội đầu tư. Trong bối cảnh này, điều quan trọng nhất là việc lựa chọn cổ phiếu với nền tảng là đánh giá về triển vọng ngành.

    Dự báo tăng trưởng lợi nhuận trong các ngành của công ty chứng khoán BVSC

    nhung-nganh-co-trien-vong-tich-cuc-trong-nam-2019-2.jpg
    Dự báo Triển vọng ngành của công ty chứng khoán Rồng Việt


    Xem thêm:


    >> Góp mặt thêm 4 tân binh, dự báo VN30 sẽ ảnh hưởng lớn đến VN-Index trong năm 2019
     
  2. Đang tải...


Lượt bình luận : 0

Chia sẻ trang này